Thông tin sản phẩm

Thành viên:Linh Comer/Nháp/9 – Wikipedia tiếng Việt

Thành viên:Linh Comer/Nháp/9

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
<

Thành viên:Linh Comer

‎ |

Nháp

Bước tới điều hướng

Bước tới tìm kiếm

Richard James “Richey” Edwards (sinh ngày 22 tháng 12 năm 1967 – mất ngày 1 tháng 2 năm 1995), còn có tên là Richey James hay Richey Manic, là một nhạc công người xứ Wales, người viết lời kiêm chơi rhythm guitar của ban nhạc

alternative rock

Manic Street Preachers

. Mặc dù không có tài năng âm nhạc đặc biệt thiên bẩm, anh lại được ghi nhớ bởi những sáng tác u tối, giàu tri thức và nhuốm màu sắc chính trị, kết hợp với cá tính hùng biện và bí ẩn đã biến anh trở thành một tượng đài, đồng thời được một số người xem là người viết ca từ hàng đầu của thế hệ, lá cờ đầu của trào lưu văn hóa

Cool Cymru

.

Edwards mất tích vào ngày 1 tháng 2 năm 1995. Ngày 24 tháng 11 năm 2008, cha mẹ anh đã nhận được trát của tòa do Cơ quan nhận thực di chúc Wales cấp. Cơ quan này chỉ định cha mẹ là người thừa kế tài sản của anh và thông báo thêm rằng anh đã tử vong “vào hoặc từ” ngày 1 tháng 2 năm 1995. Album thứ 9 của Manic Street Preachers mang tên Journal for Plague Lovers (phát hành vào ngày 18 tháng 5 năm 2009) là tập hợp các bài hát với lời do Edwards để lại. Tính đến năm 2005, các thành viên còn lại của Manic Street Preachers đã trả 25% lợi nhuận vào tài khoản mang tên anh.

Xem thêm:

Xuất thân[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Richard James Edwards sinh ra và lớn lên tại

Blackwood

,

Wales

, là con trai của Graham và Sherry Edwards. Anh có một cô em gái tên Rachel (sinh 1969) và rất thân thiết với cô. Edwards theo học

Trường hỗn hợp Oakdale

. Từ năm 1986 đến 1989, anh theo học

Đại học Wales, Swansea

và tốt nghiệp với một tấm

bằng 2:1

ở ngành lịch sử chính trị. Gia đình Edwards sống tại Blackwood. Anh gặp

Nicky Wire

,

Sean Moore

James Dean Bradfield

Trường hỗn hợp Oakdale

.

Sự nghiệp[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Edwards lúc đầu là tài xế và người khuân vác trang thiết bị biểu diễn cho

Manic Street Preachers

, nhưng anh sớm được chấp nhận làm người phát ngôn chính và thành viên thứ 4 của ban nhạc vào năm 1989. Edwards ít thể hiện tài năng âm nhạc — bù lại đóng góp thực sự của anh cho ban nhạc là về ca từ và thiết kế của nhóm. Anh thường

bắt chước

điệu bộ chơi guitar trong những buổi trình diễn nhạc sống đầu tiên, nhưng rồi cùng

tay bass

Nicky Wire

đảm nhận sáng tác lời. Edwards được cho là đã viết khoảng 80% ca từ cho album thứ 3 của nhóm,

The Holy Bible

.

[1]

Cả hai người được ghi công sáng tác ở tất cả các bài hát trước khi Edwards mất tích, và Edwards là người duy nhất được ghi công ở ba bài trích từ album

Everything Must Go

(1996) cũng như có tên đồng sáng tác hai bài nữa.

Mặc dù Edwards không học nhạc từ đầu, song anh vẫn góp công vào định hướng âm nhạc tổng thể của nhóm, và theo lời các thành viên của lại của ban trong đĩa DVD tài liệu Everything Must Go, anh giữ vai trò chính trong việc quyết định cách tiếp cận âm thanh của ban nhạc. Edwards thể hiện mong muốn tạo ra một

album chủ đề

được miêu tả là “

Pantera

tụ họp với

Nine Inch Nails

Screamadelica

“.

[2]

Tuy nhiên giọng ca chính kiêm

lead guitar

James Dean Bradfield

lại tỏ ra ngờ vực về khả năng liệu ban nhạc có sản xuất ra một album như thế không: “Tôi lo ngại rằng với tư cách người sáng tác chính trong ban nhạc, tôi thực sự không thể viết ra những thứ mà anh ấy sẽ thích. Gu nhạc [như thế] sẽ gây ra bế tắc trong ban nhạc lần đầu tiên…”

[3]

[4]

[5]

Sau khi rời khỏi tu viện vào tháng 9, Manic Street Preachers đã đi

lưu diễn

châu Âu với đội hình 4 người cùng

Suede

Therapy?

, được cho là lần cuối cùng Edwards đi diễn cùng nhóm. Lần xuất hiện cuối cùng của Edwards trên sân khấu là ở

London Astoria

, ngày 21 tháng 12 năm 1994. Buổi hòa nhạc khép lại khi ban nhạc đập phá trang thiết bị và làm hỏng hệ thống chiếu sáng, kích thích Edwards đập nát cây guitar ở cuối tiết mục diễn bài “

You Love Us

“.

[6]

Ngày 23 tháng 1 năm 1995, Edwards có buổi phỏng vấn cuối cùng với tạp chí âm nhạc Music Life của Nhật Bản.

[7]

Xem thêm: ANENG AN8008 True RMS Wave Output Digital Multimeter

Mất tích[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Edwards mất tích ngày 1 tháng 2 năm 1995, vào ngày anh và Bradfield chuẩn bị bay sang Mỹ trong chuyến lưu diễn quảng bá The Holy Bible.

[8]

Hai tuần trước khi biến mất, Edwards rút 200

bảng Anh

mỗi ngày từ tài khoản ngân hàng của mình, anh rút tổng cộng 2.800 bảng Anh tính đến ngày chuyến bay khởi hành theo lịch. Một số người đồn đoán rằng anh cần tiền cho chuyến đi ở Mỹ, có người lại nói rằng anh đặt mua một chiếc bạn cho căn hộ của mình từ một cửa hàng ở

Cardiff

. Tuy nhiên, không có ghi chép nào cho thấy chiếc bàn đã được thanh toán, do đó chỉ giải thích được lý do một nửa số tiền được rút.

[9]

[10]

Theo lời

Emma Forrest

như đã trích trong cuốn A Version of Reason, “Cái đêm trước khi anh ấy mất tích, Edwards đã đưa cho một người một cuốn sách tên là

Novel with Cocaine

, hướng dẫn cô bạn này đọc phần giới thiệu, trong đó có chi tiết tác giả ở trong một trại tâm thần trước khi biến mất.” Trong lúc lưu trú tại Khách sạn Embassy ở

Đường Bayswater

,

Luân Đôn

, theo cuốn tiểu sử của

Rob Jovanovic

, Edwards đã lấy một vài cuốn sách và băng video từ túi của anh. Một trong số chúng là bản sao của vở kịch

Equus

. Edwards gói ghém chúng cần thận trong một chiếc hộp đính kèm mẩu giấy ghi “Anh yêu em”, rồi trang trí chiếc hộp cho giống như một món quà sinh nhật và trang trí bên ngoài hộp bằng giấy cắt dán và các câu trích văn học. Chúng có hình một ngôi nhà kiểu Đức và

Thỏ Bunny

. Gói hàng được gửi đến cô bạn gái của Edwards tên Jo, người anh gặp vài năm trước, dù cho họ mới chia tay ít tuần trước đó.

[11]

Ngày 14 tháng 2, chiếc xe

Vauxhall Cavalier

của Edwards nhận một vé phạt tại trạm dịch vụ Severn View; vào ngày 17 tháng 2 năm, phương tiện này được cho là bị bỏ hoang. Cảnh sát phát hiện xe đã chạy hết ắc quy, cùng bằng chứng cho thấy chiêc xe từng được sử dụng. Chiếc xe còn có những tấm ảnh mà anh chụp gia đình mình ít ngày trước.

[8]

[9]

[12]

Do vị trí của trạm dịch vụ gần

Cầu Severn

– một

địa điểm tự tử

nổi tiếng,

[13]

nhiều người tin rằng Edwards đã nhảy cầu tự vẫn.

[14]

Tuy nhiên nhiều người quen biết Edwards lại cho biết anh chưa bao giờ là kiểu người có ý định tự tử và còn trích lại lời của chính anh nói vào năm 1994 như sau, “Nếu nói về từ ‘S’,

[15]

cái ý nghĩ [tự vẫn] không xuất hiện trong đầu tôi. Và tôi chưa bao giờ có ý thử làm vậy. Bởi vì tôi mạnh mẽ hơn thế. Tôi có thể là một người yếu đuối, song tôi có thể nén đau”.

[16]

Kể từ đấy, Edwards bị đồn là đã có mặt tại một khu

chợ

Goa

,

Ấn Độ

và trên các hòn đảo

Fuerteventura

Lanzarote

. Có những người lại thông báo rằng họ có nhìn thấy Edwards, đặc biệt trong những năm ngay sau khi anh mất tích

[17]

Tuy nhiên, không có lời đồn nào được kiểm chứng

[18]

và không có vụ nào được cơ quan điều tra xác nhận.

[19]

[20]

Năm 2018, có nguồn tin tiết lộ rằng biên lai thu phí qua cầu là đồng hồ 24 giờ, tức là anh ấy sẽ phải đi qua cầu lúc 2:55 sáng, thay vì lúc 2:55 chiều như người ta đã nghỉ trong suốt 23 năm qua.

[21]

Bản thân vụ án cũng vấp phải nhiều chỉ trích. Trong cuốn sách Everything (A Book About Manic Street Preachers) xuất bản năm 1999,

Simon Price

cho rằng các khía cạnh của vụ án “không thỏa đáng”. Ông khẳng định rằng cảnh sát không nghĩ đến tình trạng phải nhập viện tâm thần của Edwards, thay vào đó lại ưu tiên sự việc anh bị mất tích, đồng thời ghi chép rằng chị gái của Edwards là Rachel “có hành vi cản trở cảnh sát” sau khi một thước phim của

camera quan sát

được phân tích hai năm sau vụ Edwards mất tích.

[22]

Price ghi chép rằng một thành viên của tổ điều tra từng phát biểu “rằng cái ý tưởng anh có thể nhận diện ai đó là hết sức phi lý”.

[23]

Trong khi gia đình anh có quyền lựa chọn

khai tử anh hợp pháp

từ năm 2002 trở đị, họ lại không làm vậy trong nhiều năm, và tình trạng của Edwards bị để ngỏ là người mất tích

[24]

[19]

cho đến ngày 23 tháng 11 năm 2008, khi anh chính thức bị “khai tử”.

[25]

[26]

Dấu ấn[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Vụ việc Edwards mất tích đã thu hút một lượng chú ý đông đảo từ giới truyền thông.

Caitlin Moran

, cây viết của tờ

The Times

bình luận rằng Edwards đã trở thành “một

trường hợp người nổi tiếng

gây xôn xao dư luận bị mắc chứng trầm cảm,

nghiện rượu

,

chán ăn tâm thần

và ngược đãi bản thân, bởi trong con mắt của công chúng anh là người đầu tiên cởi mở trò chuyện về những đề tài như vậy, không phải kiểu ra vẻ bạo dạn huênh hoang và ẩn ý ‘nhìn xem tôi khổ sở và ngầu ra sao đi’, mà là với lòng khiêm tốn, ý thức trách nhiệm và thường là khiếu hài hước ảm đạm”.

[27]

Moran đã bỏ qua câu chuyện mà giới truyền thông thêu dệt, thay vào đấy hướng đến ý tưởng rằng Edwards đã truyền cảm hứng cho các hành động bắt chước của người hâm mộ.

Nhắc đến số báo ra vào ngày 8 tháng 4 năm 1995 của tạp chí

Melody Maker

, Moran viết rằng cô cảm thấy ghê tởm cách xử sự của truyền thông: “Nhiều người đã thể hiện sự châm biếm và lên án trong hai tuần trở lại đây, khi mà vào dịp kỷ niệm vụ tự sát của Kurt Cobain lại trùng với thời điểm tròn 2 tháng kể từ khi Richey Edwards của Manic Street Preacher mất tích, Melody Maker đã châm ngòi một cuộc tranh cãi về việc gia tăng các vấn nạn trầm cảm, tự ngược đãi bản thân và tự sát ở thanh thiếu niên.”

[27]

Tạp chí đã nhận được một số bức thư từ những người hâm mộ tỏ ra đau buồn trước

cái chết của Kurt Cobain

và cả vụ Edwards mất tích. Số báo ra ngày 8 tháng 4 chứng kiến Melody Maker tập hợp một nhóm độc giả để bàn luận về những vấn đề liên quan đến hai vụ việc kể trên. Moran lập luận rằng “những hành động của Cobain và ở phạm vi lớn hơn là những hành động của Richey Edwards đã hợp thức hóa cuộc tranh luận về những chủ đề như vậy”.

[27]

Xem thêm: Mang Cảm Hứng Của Những Ngày Tháng 6 Vào Thời Trang

Những ảnh hưởng văn học và văn hóa khác[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

Giống như niềm say mê âm nhạc, Edwards cũng rất yêu văn học. Anh đã chọn rất nhiều câu trích dẫn xuất hiện trên các bìa đĩa của Manics và thường nhắc đến các nhà văn và nhà thơ trong các buổi phỏng vấn. Niềm yêu thích văn học là một nhân tố không thể thiếu trong âm nhạc và ca từ của nhóm.

Albert Camus

,

[28]

Philip Larkin

,

Mishima Yukio

,

Fyodor Dostoyevsky

Arthur Rimbaud

được biết là những tác giả mà anh yêu thích. Trong một buổi phỏng vấn ở phòng thay đồ, anh còn bày tỏ sự ngưỡng mộ với

Primo Levi

. Lời ca của Edwards thường giàu chất thơ và đôi khi phản ánh vốn hiểu biết của anh về lịch sử chính trị.

Chú thích[

sửa

|

sửa mã nguồn

]

  1. ^

    Sullivan, Caroline; Bellos, Alex (26 tháng 1 năm 1996), “Sweet Exile”,

    The Guardian

    , London, tr. T.010

  2. ^

    Bailie, Stuart. “The Art of Falling Apart”.

    Mojo

    (tháng 2 năm 2002). tr.85.

  3. ^

    Hill, Claire (3 tháng 11 năm 2006). “Manics frontman talks of artistic differences with missing Richey”.

    Western Mail

    (

    Cardiff

    ). tr. 7.

  4. ^

    Maconie, Stuart

    “Everything Must Grow Up”

    Q Magazine

    October 1998

  5. ^

    O’Connor, Rob (Producer & Director),

    Bradfield, James Dean

    (interviewee),

    Moore, Sean

    (interviewee),

    Wire, Nicky

    (interviewee) (6 tháng 11 năm 2006). The Making of Everything Must Go (DVD).

    Sony BMG

    .

  6. ^

    Boden, Sarah (21 tháng 1 năm 2007),

    “25 of the greatest gigs ever (part 2)”

    ,

    The Observer

    , tr. 41

  7. ^

    Everyone Is Weak.” The Last Interview Before Richey’s Disappearance”

    . Articles.richeyedwards.net. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2020.

  8. ^

    a

    ă

    Price (1999), pp. 177–178.

  9. ^

    a

    ă

    Beckett, Andy (2 tháng 3 năm 1997).

    “Missing street preacher”

    . The Independent on Sunday. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2018.

  10. ^

    Price (1999), tr. 178.

  11. ^

    “A Floating Question Mark”

    . 3ammagazine.com. 4 tháng 2 năm 2019. Truy cập 14 tháng 11 năm 2020.

  12. ^

    “Ten-year tragedy of missing Manic”

    . BBC. 1 tháng 2 năm 2005. Truy cập 30 tháng 1 năm 2008.

  13. ^

    Pidd, Helen. “

    Richey Edwards case closed: how 14 years of hope ended

    “,

    The Guardian

    . 29 tháng 1 năm 2008.

  14. ^

    “Amy Winehouse joins iconic stars who died aged 27”

    . BBC. 25 tháng 7 năm 2011. Truy cập 25 tháng 7 năm 2011.

  15. ^

    chữ cái đầu của suicide – từ tiếng Anh của tự tử

  16. ^

    “The Last of Richey Edwards?”

    . Richeyedwards.net. Truy cập 3 tháng 4 năm 2010.

  17. ^

    Sullivan, Caroline (28 tháng 1 năm 2000).

    “The lost boys”

    . The Guardian. Truy cập 2 tháng 2 năm 2017.

  18. ^

    Wills, Colin (2 tháng 6 năm 1996). “Is Richey the wild rebel of rock alive or dead?”.

    Sunday Mirror

    . tr. 62.

  19. ^

    a

    ă

    Helan, Stephen P. (30 tháng 1 năm 2005). “Living With Ghosts”.

    Sunday Herald

    . tr. 10.

  20. ^

    Price (1999), pp. 183–185.

  21. ^

    “New information uncovered in Richey Edwards case”

    .

    The Guardian

    . 9 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2020.

  22. ^

    Price (1999), tr. 186.

  23. ^

    Price (1999), tr. 187.

  24. ^

    Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên jinman7

  25. ^

    “Missing guitarist ‘presumed dead

    . BBC. 24 tháng 11 năm 2008. Truy cập 24 tháng 11 năm 2008.

  26. ^

    Cartwright, Garth (26 tháng 11 năm 2008),

    “Obituary: Richey Edwards”

    ,

    The Guardian

    , truy cập 30 tháng 10 năm 2012

  27. ^

    a

    ă

    â

    “Cries that won’t go away” The Times (Luân Đôn); 21 tháng 4 năm 1995; Caitlin Moran; tr. 1

  28. ^

    Moran, Caitlin (17 tháng 12 năm 2004).

    “Grow up, for Pete’s sake”

    . The Times. Truy cập 10 tháng 8 năm 2010.

Lấy từ “

https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Thành_viên:Linh_Comer/Nháp/9&oldid=65097688

Chuyên mục: Thông tin sản phẩm

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button